ADVERTISEMENT
ADVERTISEMENT

Việc ra đời của Lịch pháp và thiên văn học ở phương Đông có tác dụng nào sau đây

ADVERTISEMENT

*Sự Ra Đời Của Lịch Pháp
-Lịch pháp được coi là một hệ thống tổ chức ghi chép thời gian. Nó hiển thị các điều tiết cuộc sống dân sự các nghi l

tại sao thiên văn học và lịch pháp ra đời sớm nhất ở các quốc gia phương đông

(1) Tại sao lịch pháp và thiên văn học ra đời sớm nhất ở các quốc gia cổ đại phương đông?
(2) Vì sao Ấn Độ đc coi là trung tâm văn minh của nhân loại VN. Ở VN việc tôn thờ và hình Phật nói lên điều gi?
Mình cần gấp cho chiều mai mong mọi người giải giúp

Bạn đang tìm kiếm “Sự ra đời của lịch pháp và thiên văn học”? Bạn yêu thích lĩnh vực chiêm tinh học và đang nghiên cứu các chủ đề liên quan đến nó? Bạn đam mê tìm hiểu lịch sử của đồng hồ ngày nay? Trong bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ giúp bạn tìm hiểu sự ra đời của lịch pháp và thiên văn học cũng như những ý nghĩa ra đời của hai thành tựu khoa học kinh điển này.

Lịch pháp được coi là một hệ thống tổ chức ghi chép thời gian. Nó hiển thị các điều tiết cuộc sống dân sự các nghi lễ tôn giáo. Lịch pháp cũng được dùng cho các mục đích lịch sử và khảo học. 

Người xưa tính lịch pháp dựa vào sự chuyển động của mặt trời và mặt trăng. Từ đó họ tính ra nông lịch ví dụ một năm có 356 ngày. Số ngày này sẽ chia đều thành 12 tháng và sau đó phân thành toàn giờ vào mùa. 

Sự ra đời của lịch Pháp có tác dụng giúp ích cho việc gieo trồng đúng thời vụ. 

Sự Ra Đời Của Thiên Văn Học

Thiên văn học là một trong những bộ môn khoa học có sự ra đời sớm nhất. Con người cũng dựa vào sự chuyển động của mặt trời và mặt trăng để tìm ra những quy luật. Những phát hiện căn bản nhất của người tiền sử chính là nhận biết các thời điểm chuyển mùa. Ngoài ra người xưa tin những hiện tượng thiên văn bí ẩn sẽ là điềm báo trong cuộc sống và củng cố tín ngưỡng của loài người. 

Đặc biệt thiên văn học có ứng dụng rất quan trọng trong trồng trọt và chăn nuôi. 

Người nông dân một đồng mà thợ săn Quan sát và thiên văn để nhận biết được thời vụ đánh bắt cũng như sản xuất phù hợp. 

Đến thời cổ đại, loài người xuất hiện những nền văn minh lâu đời như văn minh Ai Cập. Văn minh Ai Cập có những bước tiến vĩ đại Khi phát minh ra âm lịch với 12 tháng. Mỗi tháng sẽ có từ 29 đến 30 ngày. Và cứ 2 và 3 năm sau họ sẽ cộng thêm vào một tháng để phù hợp với các mùa trong năm.

Ứng Dụng Của Lịch Pháp Và Thiên Văn Học

Trải qua một thời gian lịch sử phát triển “thâm hậu”, lịch pháp và thiên văn học đã xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trong cuộc sống của con người. Hai ứng dụng phổ biến và có ý nghĩa lớn nhất trong cuộc sống con người chính là Lịch và Đồng hồ. 

Nhờ có chúng, con người mới có thể nhận biết được thời gian, biết được sớm – tối, biết phân chia các mùa,v.v.. Thông qua đó, con người có các kế hoạch để thực hiện chính xác, tỉ mỉ cũng như có được sự chuẩn bị ứng phó với các thời điểm khác nhau.

Sự ra đời của lịch pháp và thiên văn học đã ảnh hưởng tích cực đến cuộc sống của con người. Nó đã thay đổi lối sống và sinh hoạt hàng ngày của con người. Từ đó, nó cũng tác động đến nhiều phát minh vĩ đại của nhân loại sau này.

Tổng Kết

Có thể thấy sự ra đời của lịch pháp và thiên văn học đã đánh dấu sự phát triển vượt bậc của loài người. Con người cũng ứng dụng được những hiện tượng tự nhiên để phục vụ cho đời sống của mình. Đừng quên theo dõi chúng tôi trong các bài viết tiếp theo để được chia sẻ nhiều kiến thức bổ ích và thú vị!

Bài viết thuộc tác giả hongngoc2321 – thành viên Cong dong phu nu Viet Nam! Nếu bạn sử dụng bài viết cho mục đích cá nhân, vui lòng ghi rõ! Xin cảm ơn!

———————————————————————————————–

Có thể bạn quan tâm:

Các Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Đơn Giản Cho Học Sinh, Sinh Viên

Cách Làm Nước Dashi Cho Bé 5 Tháng Tuổi Tại Nhà

Câu hỏi: Sự ra đời của lịch pháp và thiên văn học cổ đại Phương Đông?

Trả lời:

– Những tri thức về Thiên văn học và Lịch pháp học ra đời từ rất sớm, gắn liền với nhu cầu sản xuất nông nghiệp.

– Họ biết đến sự chuyển động của Mặt Trời, Mặt Trăng. Đó là những tri thức đầu tiên về thiên văn. Từ tri thức đó, người phương Đông sáng tạo ra lịch (nông lịch, có 365 ngày/năm, được chia thành 12 tháng).

– Tính chu kì thời gian và mùa. Thời gian được tính bằng năm, tháng, tuần, ngày. Năm lại có mùa; mùa mưa là mùa nước lên, mùa khô là mùa nước xuống, mùa gieo trồng đất bãi.

– Biết đo thời gian bằng ánh sáng mặt trời và tính được mỗi ngày có 24 giờ.

Hãy cùng Top lời giải tìm hiểu thêm về cổ đại phương Đông nhé!

1. Sự hình thành các quốc gia cổ đại phương Đông

Bắt đầu từ cuối thiên niên kỷ thứ IV đến thiên niên kỷ thứ III (TCN), các quốc gia lớn được lần lượt hình thành bao gồm Ai Cập ở lưu vực sông Nin, Lưỡng Hà ở lưu vực sông Owphorat, Ấn Độ ở sống Hằng và Trung Quốc ở sông Hoàng Hà. Đây chính là 4 quốc gia cổ đại đầu tiên và lớn nhất ở phương Đông.

Trong quá trình phát triển, các quốc gia cổ đại này cũng bắt đầu hình thành lên những thể chế xã hội và có sự phân biệt các tầng lớp. Về cơ bản, xã hội của các quốc gia này phân ra làm 3 tầng lớp chính là nông dân công xã giữ vai trò sản xuất chủ đạo giúp tạo ra của cải cho xã hội. Tầng lớp thứ 2 là giai cấp thống trị gồm quý tộc và quan lại giữ vai trò nắm giữ của cải và có quyền thế. Cuối cùng là giai cấp nô lệ với thân phận hèn kém và bị bóc lột. Nếu xếp theo thứ tự đúng sẽ là tầng lớp nô lệ – tầng lớp nông dân công xa – tầng lớp quý tộc, quan lại.

2. Đặc điểm các quốc gia cổ đại phương Đông

Các quốc gia cổ đại phương Đông đều có những đặc trưng chung của một xã hội chiếm hữu nô lệ, ví như việc phân chia xã hội thành hai giai cấp đối kháng: giai cấp quý tộc chủ nô thống trị và giai cấp nô lệ bị áp bức, bóc lột một cách tàn nhẫn và thô bạo nhất. Nhưng các quốc gia đó cũng có nhiều đặc điểm riêng làm cho người ta có thể phân biệt chúng với các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương Tây như Hy Lạp và La Mã cổ đại:

– Các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời ở thời kỳ mà sức sản xuất xã hội đang còn ở trình độ thấp kém, vào khoảng cuối của thời đại đồ đá mới tiến lên thời đại đồ đồng. Trình độ sức sản xuất thời ấy không cho phép các quốc gia đó phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ của mình một cách nhanh chóng, khiến cho trước sau các quốc gia đó không trở thành những xã hội chiếm hữu nô lệ phát triển thành thục và điển hình.

– Sự tồn tại dai dẳng và ngoan cố của những tổ chức công xã nông thôn (hay công xã láng giềng), tàn tích của chế độ xã hội thị tộc thời nguyên thủy, và sự phát triển rất yếu ớt của chế độ tư hữu về ruộng đất trong các xã hội cổ đại phương Đông.

– Sự bảo tồn lâu dài của chế độ nô lệ gia trưởng và của các hình thức áp bức, bóc lột kiểu gia trưởng, việc sử dụng lao động của nô lệ chưa được phổ cập trong các ngành sản xuất xã hội và vai trò của nô lệ trong sản xuất kinh tế chưa chiếm địa vị chủ đạo.

– Sự xuất hiện và phát triển của một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt, nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền mạnh mẽ, gọi là chủ nghĩa chuyên chế phương Đông mà đặc trưng chủ yếu là quyền lực vô hạn của các đế vương, nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất và về thần dân trong cả nước.

Những đặc điểm của chế độ chiếm hữu nô lệ của các quốc gia cổ đại phương Đông nêu trên, đều có thể coi là những nguyên nhân gây nên tình trạng trì trệ tương đối của các xã hội cổ đại phương Đông. Tuy nhiên không thể phủ nhận hoặc đánh giá thấp vai trò và vị trí của các quốc gia cổ đại phương Đông đối với tiến trình phát triển của xã hội loài người. Đó là vì phương Đông cổ đại là nơi chôn rau cắt rốn của những nền văn minh tối cổ của nhân loại, là nơi đặt nền móng cho một nền văn hóa vật chất và tinh thần mà những thành tựu rực rỡ của nó là những cống hiến vô cùng quý báu và phong phú cho kho tàng văn hóa của thế giới cổ kim.

3. Văn hóa cổ đại phương Đông

a. Lịch pháp và thiên văn học:

Để thuận lợi và đáp ứng nhu cầu của việc sản xuất, Lịch ra đời từ rất sớm, một năm có 365 ngày, họ chia thành tháng, tuần, ngày, và mỗi ngày có 24 giờ.

Họ biết được sự chuyển động của Mặt trăng, Mặt trời từ đó hình thành nên Thiên văn học.

b. Chữ viết:

Chữ viết trên thẻ tre của người Trung Quốc

– Để lưu lại và trao đổi thông tin, chữ viết ra đời, đây được cho là một phát minh lớn nhất của loài người : Chữ tượng hình xuất hiện trước dần chữ tương ý ra đời để phù hợp với mục đích của con người.

Người Trung Quốc viết lên dải tre, vải lụa, mai rùa.

Người Ấn viết trên vỏ cây papyrus.

Người Su-me viết bằng những đầu cây được vót nhọn rồi viết lên những miếng đất sét còn ướt đem nung lên.

ADVERTISEMENT

c. Toán học:

– Do nhu cầu tính toán lại diện tích ruộng đất sau khi ngập nước, tính toán trong xây dựng, nên Toán học xuất hiện rất sớm ở phương Đông.

Lúc đầu, cư dân phương Đông biết viết chữ số từ 1 đến 1 triệu bằng những kí hiệu đơn giản.

+ Người Ai Cập cổ đại rất giỏi về hình học. Họ tính được số Pi=3,16; tính được diện tích hình tròn, hình tam giác, thể tích hình cầu,…

+ Người Lưỡng Hà giỏi về số học. Họ có thể làm các phép cộng, trừ, nhân, chia cho tới một triệu. Chữ số mà ta dùng ngày nay, quen gọi là chữ số A-rập, kể cả số 0, là thành tựu lớn do người Ấn Độ tạo nên.

+ Người Trung Quốc cho ra đời cuốn sách Cửu chương toán thuật được dùng làm sách giáo khoa và trở thành một tác phẩm kinh điển đối với các nhà toán học cổ Trung Quốc. Cửu chương toán thuật là một cuốn tự điển toán học độc đáo phục vụ cho những người đạc điền, nhà thiên văn, hay những người thu thuế… của Trung Quốc. Tác phẩm này gồm có 246 bài toán trình bày giả thiết rồi đến lời giải. Viết khoảng năm 152 TCN.

Những hiểu biết về toán học của người xưa đã để lại nhiều kinh nghiệm quý, chuẩn bị cho bước phát triển cao hơn ở thời sau.

ADVERTISEMENT

Bài Viết Mới

ADVERTISEMENT